logo

Thông báo

Icon
Error

Đăng nhập



Quên mật khẩu Bạn chưa có tài khoản? >> Đăng ký ngay
Share
Tùy chọn
Xem bài viết cuối Go to first unread
Offline lethanh15  
#1 Đã gửi : 26/10/2020 lúc 09:15:53(UTC)
lethanh15

Danh hiệu: Kỳ cựu

Nhóm: Registered
Gia nhập: 08-10-2020(UTC)
Bài viết: 326

Cảm ơn: 68 lần
Được cảm ơn: 58 lần trong 47 bài viết

Nghĩa vụ cấp dưỡng là một trong những nghĩa vụ quan trọng của cha - con, mẹ - con. Tuy nhiên, nếu chưa đăng ký kết hôn thì nghĩa vụ này có được pháp luật hôn nhân gia đình bảo vệ hay không?



Làm bạn gái có bầu, bạn trai có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con không? (Ảnh minh họa)


Trước khi bàn về vấn đề cấp dưỡng, cần phải xác định đây là mối quan hệ cha con. Điều 88 Luật HNGĐ 2014 quy định về việc xác định cha, mẹ cho con như sau:


1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.


Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.


Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.


2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.


Theo quy định này, để xác định cha, mẹ cho con khi chưa đăng ký kết hôn thì phải thỏa 02 điều kiện:


- Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn;


- Được cha, mẹ thừa nhận là con chung.


Như vậy, khi chưa chính thức là vợ chồng nhưng bạn gái có bầu, để xác định cha, mẹ cho con thì sau khi đứa trẻ được sinh ra phải được cả hai thừa nhận là con chung. Nếu một trong hai không thừa nhận thì quan hệ cha, mẹ, con vẫn chưa được xác lập và người còn lại có quyền khởi kiện ra Tòa án cấp huyện nơi bạn trai đang cư trú.


Điều 101. Thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con


1. Cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp.


2. Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp quy định tại Điều 92 của Luật này.


Khi khởi kiện, người yêu cầu nhận cha, mẹ cho con cần phải chứng minh mối quan hệ cha, mẹ, con theo Điều 14 Thông tư 04/2020/TT-BTP:


Điều 14. Chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con


Chứng cứ để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều 25 và khoản 1 Điều 44 của Luật hộ tịch gồm một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây:


1. Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.


2. Trường hợp không có chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều này thì các bên nhận cha, mẹ, con lập văn bản cam đoan về mối quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại Điều 5 Thông tư này, có ít nhất hai người làm chứng về mối quan hệ cha, mẹ, con.


Văn bản của cơ quan y tế xác nhận quan hệ cha con, mẹ con ở đây là kết quả xét nghiệm ADN. Tuy nhiên, khi người cha từ chối giám định ADN, trong khi đây là một yêu cầu bắt buộc trong vụ án xác định cha, mẹ, con thì sẽ gây trở ngại lớn cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc. Vì vậy, khoản 2 Điều này cho phép những chứng cứ chứng minh khác ngoài kết quả giám định ADN. Người khởi kiện cần chủ động thu thập và chuẩn bị những chứng cứ gián tiếp khác như sau:


- Giấy tờ hoặc thư do người bị kiện viết trong đó có thừa nhận đứa bé là con mình;


- Trong thời gian có thể thụ thai đứa bé, chị và người đàn ông kia chung sống với nhau như vợ chồng;


- Thông qua dư luận xã hội,…


Chỉ khi cơ quan có thẩm quyền công nhận mối quan hệ cha, mẹ, con thì người khởi kiện mới có quyền yêu cầu cha của đứa trẻ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con mình. Nghĩa vụ cấp dưỡng được quy định tại Điều 110 Luật HNGĐ 2014:


Điều 110. Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con


Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.


Như vậy, người bị kiện sau khi được xác định là cha con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho đứa trẻ đến khi đứa trẻ đủ 18 tuổi.


Luật HNGĐ 2014 là một hành lang pháp lý vững chắc bảo vệ quyền lợi cho con khi quy định về nghĩa vụ của cha mẹ tại Khoản 4 Điều 69 như sau: Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. Như vậy, dù có kết hôn hay chưa thì sau khi xác định quan hệ huyết thống, bạn trai (lúc này đã đóng vai trò là người cha) phải có nghĩa vụ đầy đủ đối với đứa con của mình. Đây là nghĩa vụ bắt buộc, không thể thay thế và không thể chuyển giao cho người khác. 


 


 


 


 

Sửa bởi người viết 26/10/2020 lúc 10:13:51(UTC)  | Lý do: Chưa rõ

Offline phungthithuytrong  
#2 Đã gửi : 10/09/2021 lúc 05:19:26(UTC)
phungthithuytrong

Danh hiệu: Kỳ cựu

Nhóm: Registered
Gia nhập: 19-04-2021(UTC)
Bài viết: 310

Cảm ơn: 6 lần
Được cảm ơn: 8 lần trong 8 bài viết
Nếu đã có quyết định của Tòa án mà bạn trai vụ vẫn không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, trốn tránh việc cấp dưỡng thì tùy theo tính chất mức độ của hành vi có thể bị xử phạt vi phạm hành chính nặng hơn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Xử phạt hành chính: tại Điều 54 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định:
“Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

1. Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn; từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa anh, chị, em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu theo quy định của pháp luật.

2 Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi dưỡng cha, mẹ; nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.”
- Xử lý hình sự: tại Khoản 37 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định:
Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 380 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.”
1200
Ai đang xem chủ đề này?
Di chuyển  
Bạn không thể tạo chủ đề mới trong diễn đàn này.
Bạn không thể trả lời chủ đề trong diễn đàn này.
Bạn không thể xóa bài của bạn trong diễn đàn này.
Bạn không thể sửa bài của bạn trong diễn đàn này.
Bạn không thể tạo bình chọn trong diễn đàn này.
Bạn không thể bỏ phiếu bình chọn trong diễn đàn này.