logo

Thông báo

Icon
Error

Đăng nhập



Quên mật khẩu Bạn chưa có tài khoản? >> Đăng ký ngay
Share
Tùy chọn
Xem bài viết cuối Go to first unread
Offline phungthithuytrong  
#1 Đã gửi : 14/09/2021 lúc 08:09:24(UTC)
phungthithuytrong

Danh hiệu: Kỳ cựu

Nhóm: Registered
Gia nhập: 19-04-2021(UTC)
Bài viết: 310

Cảm ơn: 6 lần
Được cảm ơn: 8 lần trong 8 bài viết

Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thể hiện tính cấp bách của việc ngăn chặn tội phạm, đồng thời góp phần ngăn ngừa không cho các đối tượng bị nghi thực hiện tội phạm, trốn tránh pháp luật gây khó khăn cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.



Áp dụng biện pháp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp khi nào? (Hình minh họa)


1. Trường hợp áp dụng biện pháp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp


Theo tinh thần của khoản 2 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 thì “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát”.


Theo đó, căn cứ tại khoản 1 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (BLTTHS 2015) khi thuộc một trong các trường hợp khẩn cấp sau đây thì được giữ người:


- Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;


Đây là trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã theo dõi hoặc xác minh từ các nguồn thông tin biết được người đó đang chuẩn bị công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội. Theo đó, việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp này phải đáp ứng đủ 02 điều kiện: (1) có căn cứ khẳng định người đó (có thể là một người hoặc nhiều người) đang chuẩn bị thực hiện tội phạm; (2) Tội phạm đang chuẩn bị thực hiện chỉ có thể là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.


- Người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;


Có thể thấy, đây là trường hợp tội phạm đã xảy ra nhưng người thực hiện tội phạm không bị bắt giữ ngay mà sau một thời gian, người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm, nếu cơ quan có thẩm quyền xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn thì ra lệnh giữ khẩn cấp. Như vậy, việc giữ người trong trường hợp khẩn khi có đủ cơ sở để khẳng định người đó đã thực hiện tội phạm và nếu không giữ ngay người đó sẽ trốn.


- Có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.


Đối với trường hợp này cơ quan có thẩm quyền chưa có đủ chứng cứ, tài liệu để xác định người đó thực hiện tội phạm nhưng nếu phát hiện có dấu vết tội phạm như quy định nêu trên thì được giữ khẩn cấp. 02 điều kiện giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối trường hợp này là: (1) Phát hiện dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở, nơi làm việc hoặc phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm; (2) Cần ngăn chặn người bị nghi thực hiện tội phạm trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ.


Sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, nếu xét thấy cần thiết, những người quy định tại điểm a khoản 2 Điều 110 BLTTHS 2015 ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn.


2. Trình tự bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp


Theo quy định tại khoản 4 Điều 110 BLTTHS năm 2015 thì: “Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và những người quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó…”.


Theo đó, trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì cơ quan có thẩm quyền cần tiến hành 03 hoạt động sau đây:


Thứ nhất, lấy lời khai ngay người bị giữ;


Thứ hai, ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó;


Thứ ba, gửi ngay lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn.


Trong trường hợp đã ra quyết định tạm giữ thì trong hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ khẩn cấp phải có quyết định tạm giữ (điểm b khoản 5 Điều 110 BLTTHS 2015).


Bên cạnh đó, để đảm bảo tính chặt chẽ, chính xác, tránh lạm dụng chức vụ bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì theo quy định tại khoản 6 Điều 110 BLTTHS 2015 quy định: “Trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên phải trực tiếp gặp, hỏi người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp trước khi xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Biên bản ghi lời khai của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp do Kiểm sát viên lập phải đưa vào hồ sơ vụ việc, vụ án.” Như vậy, có 02 trường hợp xảy ra:


 - Trường hợp 1: Viện kiểm sát quyết định không phê chuẩn bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì cơ quan điều tra phải ra quyết định trả tự do ngay cho người bị giữ.


- Trường hợp 2: Viện kiểm sát quyết định phê chuẩn bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì Viện kiểm sát lập biên bản ghi lời khai của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Sau khi nhận được quyết định phê chuẩn lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp, Điều tra viên thực hiện thủ tục lập Biên bản bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp tại cơ sở giam giữ. Người chứng kiến việc lập biên bản là cán bộ của cơ sở giam giữ (theo quy định tại khoản 4 Điều 15 Thông tư liên tịch 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP).


Như vậy, phải có lệnh giữ người mới được bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Việc thi hành lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải thực hiện sau lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt giữ người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải thực hiện trước khi có quyết định tạm giữ (khi có quyết định tạm giữ thì người bị tạm giữ mới được đưa vào nhà tạm giữ).    


646
Ai đang xem chủ đề này?
Di chuyển  
Bạn không thể tạo chủ đề mới trong diễn đàn này.
Bạn không thể trả lời chủ đề trong diễn đàn này.
Bạn không thể xóa bài của bạn trong diễn đàn này.
Bạn không thể sửa bài của bạn trong diễn đàn này.
Bạn không thể tạo bình chọn trong diễn đàn này.
Bạn không thể bỏ phiếu bình chọn trong diễn đàn này.