logo

Thông báo

Icon
Error

Đăng nhập



Quên mật khẩu Bạn chưa có tài khoản? >> Đăng ký ngay
Share
Tùy chọn
Xem bài viết cuối Go to first unread
Offline thaithiman  
#1 Đã gửi : 15/04/2019 lúc 04:09:10(UTC)
thaithiman

Danh hiệu: Gạo cội

Nhóm: Registered
Gia nhập: 10-03-2018(UTC)
Bài viết: 751
Woman
Đến từ: TP. Hồ Chí Minh

Thanks: 52 times
Được cảm ơn: 119 lần trong 89 bài viết


Khi một tranh chấp phát sinh các bên lựa chọn phương án giải quyết giải quyết khác nhau. Các bên có thể thương lượng, hòa giải tìm tiếng nói chung hoặc thường khởi kiện ra Tòa án. Nhưng trước viễn cảnh vụ việc bị tồn đọng, chi phí kiện tụng tại tòa cao, thời gian xét xử kéo dài vì có thể phải trải qua nhiều lần phúc thẩm, một số cá nhân và tổ chức đã lựa chọn phương thức phân xử bằng trọng tài - Tố tụng trong tài.


Ưu điểm nào của Tố tụng Trọng tài so với Tòa án khiến hình thức Tố tụng này được lựa chọn?


Tố tụng trọng tài thường có một số ưu điểm so với tố tụng tòa án như sau:


1. Chi phí: Thông thường, tố tụng trọng tài có chi phí thấp hơn so với tòa án, trừ một số trường hợp mà vấn đề tranh chấp rất phức tạp, quá trình tố tụng phải kéo dài.


2. Tốc độ: Tố tụng trọng tài thường tuân theo lịch trình cụ thể và chi tiết hơn trong quá trình giải quyết tranh chấp. Hơn nữa, trọng tài viên thường không phải xử lý số lượng lớn vụ việc như thẩm phán nên có thể đưa ra phán quyết nhanh hơn.


3. Công bằng: Hội đồng trọng tài thường được các bên cùng thỏa thuận và lựa chọn, hoặc thông qua dịch vụ trọng tài bên thứ ba, hoặc thông qua các cách khác mà các bên đồng ý. Như vậy, không bên nào có toàn quyền quyết định người phân xử.


4. Tính chung thẩm: Trong hầu hết các trường hợp, phán quyết của trọng tài thường rất khó để bị xét lại, khác với việc phúc thẩm nhiều cấp của tòa án. Một khi đã có kết quả giải quyết tranh chấp, phán quyết ấy thường sẽ có tính chung thẩm và có hiệu lực ràng buộc ngay lập tức.


5. Quy trình đơn giản hóa: Khởi kiện ở tòa án có thể bao gồm nhiều giấy tờ, nhiều phiên điều trần, lệnh triệu tập, và các thủ tục tương tự. Nhưng tố tụng trọng tài có thể giảm thiểu một số hoặc nhiều thủ tục tố tụng tốn kém về thời gian và tiền bạc.


6. Bảo mật: Tố tụng trọng tài không được tổ chức công khai như tố tụng tòa án. Bản ghi chép diễn biến phiên làm việc cũng không được coi là tài liệu công khai nên các bên tham gia sẽ được bảo đảm bí mật, đặc biệt là trong các vụ việc liên quan bí mật kinh doanh.


Tính bảo mật là yếu tố được nhấn mạnh trong tố tụng trọng tài và cũng là một trong những lý do các bên tranh chấp lựa chọn phương thức này. Ví dụ khoản 4, điều 4 Luật Trọng tài thương mại 2010 của Việt Nam quy định một trong những nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là "tiến hành không công khai, trừ khi các bên có thỏa thuận khác". Hoặc điều 34 của Bộ quy tắc trọng tài của UNCITRAL phiên bản 2010 hoặc 2013 quy định: "Phán quyết của trọng tài chỉ được công khai nếu có sự nhất trí của các bên tham gia".


Bên cạnh đó thì Tố tụng trọng tài vẫn tồn tại những yếu điểm của nó:


- Với bên thua cuộc, phán quyết của hội đồng trọng tài thường rất khó để bị lật ngược, trừ phi chứng minh được trọng tài viên có ác ý hoặc thiên vị.


- Thông tin về phiên làm việc của hội đồng trọng tài không được công khai nên nhiều người cho rằng điều này có thể che giấu sự thiên vị. Tính minh bách công bằng không được đánh giá cao.


- Chi phí trọng tài cũng có xu hướng ngày càng đắt đỏ.


- Hơn nữa, nếu một bên cố ý không tuân theo phán quyết, bên còn lại sẽ phải nhờ tới sự can thiệp của cơ quan thi hành án của nhà nước vì hội đồng trọng tài không có thẩm quyền cưỡng chế thi hành.


Offline thaithiman  
#2 Đã gửi : 15/04/2019 lúc 04:11:18(UTC)
thaithiman

Danh hiệu: Gạo cội

Nhóm: Registered
Gia nhập: 10-03-2018(UTC)
Bài viết: 751
Woman
Đến từ: TP. Hồ Chí Minh

Thanks: 52 times
Được cảm ơn: 119 lần trong 89 bài viết

 Tìm hiểu về Tố tụng trọng tài được quy định trong Luật Trọng tài thương mại 2010


Tố tụng trọng tài được quy định cụ thể trong Luật Trọng tài thương mại 2010, cụ thể như sau.


1. Thông báo đơn khởi kiện


Nếu các bên không có thoả thuận khác hoặc quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài không có quy định khác, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, các tài liệu kèm theo và chứng từ nộp tạm ứng phí trọng tài, Trung tâm trọng tài phải gửi cho bị đơn bản sao đơn khởi kiện của nguyên đơn và những tài liệu theo quy định tại khoản 3 Điều 30 của Luật này.


2. Về thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài


Trừ trường hợp luật chuyên ngành có quy định khác, thời hiệu khởi kiện theo thủ tục trọng tài là 02 năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm.


3. Về vấn đề phí trọng tài


3.1. Phí trọng tài là khoản thu từ việc cung cấp dịch vụ giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài. Phí trọng tài gồm:


a) Thù lao Trọng tài viên, chi phí đi lại và các chi phí khác cho Trọng tài viên;


b) Phí tham vấn chuyên gia và các trợ giúp khác theo yêu cầu của Hội đồng trọng tài;


c) Phí hành chính;


d) Phí chỉ định Trọng tài viên vụ việc của Trung tâm trọng tài theo yêu cầu của các bên tranh chấp;


đ) Phí sử dụng các dịch vụ tiện ích khác được cung cấp bởi Trung tâm trọng tài.


3.2. Phí trọng tài do Trung tâm trọng tài ấn định. Trường hợp vụ tranh chấp được giải quyết bởi Trọng tài vụ việc, phí trọng tài do Hội đồng trọng tài ấn định.


3.3. Bên thua kiện phải chịu phí trọng tài, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc quy tắc tố tụng trọng tài quy định khác hoặc Hội đồng trọng tài có sự phân bổ khác.


4. Vấn đề bản tự bảo vệ và việc gửi bản tự bảo vệ của bị đơn


4.1. Bản tự bảo vệ gồm có các nội dung sau đây:


a) Ngày, tháng, năm làm bản tự bảo vệ;


b) Tên và địa chỉ của bị đơn;


c) Cơ sở và chứng cứ tự bảo vệ, nếu có;


d) Tên và địa chỉ của người được bị đơn chọn làm Trọng tài viên hoặc đề nghị chỉ định Trọng tài viên.


4.2. Đối với vụ tranh chấp được giải quyết tại Trung tâm trọng tài, nếu các bên không có thoả thuận khác hoặc quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài không có quy định khác, thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo, bị đơn phải gửi cho Trung tâm trọng tài bản tự bảo vệ. Theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, thời hạn này có thể được Trung tâm trọng tài gia hạn căn cứ vào tình tiết cụ thể của vụ việc.


4.3. Đối với vụ tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài vụ việc, nếu các bên không có thoả thuận khác, thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu kèm theo, bị đơn phải gửi cho nguyên đơn và Trọng tài viên bản tự bảo vệ, tên và địa chỉ của người mà mình chọn làm Trọng tài viên.


4.4. Trường hợp bị đơn cho rằng vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Trọng tài, không có thoả thuận trọng tài, thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được thì phải nêu rõ điều đó trong bản tự bảo vệ.


4.5. Trường hợp bị đơn không nộp bản tự bảo vệ theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này thì quá trình giải quyết tranh chấp vẫn được tiến hành.


5. Đơn kiện lại của bị đơn


5.1. Bị đơn có quyền kiện lại nguyên đơn về những vấn đề có liên quan đến vụ tranh chấp.


5.2. Đơn kiện lại của bị đơn phải được gửi cho Trung tâm trọng tài. Trong trường hợp vụ tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài vụ việc, đơn kiện lại phải gửi cho Hội đồng trọng tài và nguyên đơn. Đơn kiện lại phải được nộp cùng thời điểm nộp bản tự bảo vệ.


5.3. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn kiện lại, nguyên đơn phải gửi bản tự bảo vệ cho Trung tâm trọng tài. Trường hợp vụ tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài vụ việc, nguyên đơn phải gửi bản tự bảo vệ cho Hội đồng trọng tài và bị đơn.


5.4. Việc giải quyết đơn kiện lại do Hội đồng trọng tài giải quyết đơn khởi kiện của nguyên đơn thực hiện theo quy định của Luật này về trình tự, thủ tục giải quyết đơn khởi kiện của nguyên đơn.


6. Vấn đề rút đơn khởi kiện, đơn kiện lại; sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, đơn kiện lại hoặc bản tự bảo vệ


6.1. Trước khi Hội đồng trọng tài ra phán quyết trọng tài, các bên có quyền rút đơn khởi kiện, đơn kiện lại.


6.2. Trong quá trình tố tụng trọng tài, các bên có thể sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, đơn kiện lại hoặc bản tự bảo vệ. Hội đồng trọng tài có quyền không chấp nhận các sửa đổi, bổ sung này nếu thấy rằng việc đó có thể bị lạm dụng nhằm gây khó khăn, trì hoãn việc ra phán quyết trọng tài hoặc vượt quá phạm vi của thỏa thuận trọng tài áp dụng cho vụ tranh chấp.


7. Vấn đề thương lượng trong tố tụng trọng tài


Kể từ thời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài, các bên vẫn có quyền tự mình thương lượng, thỏa thuận chấm dứt việc giải quyết tranh chấp.


Trong trường hợp các bên tự thỏa thuận được với nhau chấm dứt việc giải quyết tranh chấp thì có quyền yêu cầu Chủ tịch Trung tâm trọng tài ra quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp.


 


Offline Lequy2018  
#3 Đã gửi : 18/04/2019 lúc 04:29:32(UTC)
Lequy2018

Danh hiệu: Gạo cội

Nhóm: Registered
Gia nhập: 14-03-2018(UTC)
Bài viết: 478
Woman
Đến từ: TP.HCM

Thanks: 158 times
Được cảm ơn: 92 lần trong 79 bài viết
Minnh cũng muốn góp ý thêm về các ưu điểm, nhược điểm của Tòa Án:
Ưu điểm:
- Phán quyết của tòa án được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước
- Việc giải quyết có thể qua nhiều cấp xét xử
- Chi phí cho việc giải quyết tranh kinh tế tại tòa án thấp
Nhược điểm:
- Các bên phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định mang tính hình thức pháp luật tố tụng dẫn đến tốn kém rất nhiều thời gian.
- Tòa án xét xử công khai
- Nguyên tắc xét xử nhiều cấp đảm bảo cho quyết định của tòa án là chính xác, công bằng nhưng khiến cho vụ việc có thể bị kéo dài.
1110
Ai đang xem chủ đề này?
Di chuyển  
Bạn không thể tạo chủ đề mới trong diễn đàn này.
Bạn không thể trả lời chủ đề trong diễn đàn này.
Bạn không thể xóa bài của bạn trong diễn đàn này.
Bạn không thể sửa bài của bạn trong diễn đàn này.
Bạn không thể tạo bình chọn trong diễn đàn này.
Bạn không thể bỏ phiếu bình chọn trong diễn đàn này.