logo

Thông báo

Icon
Error

Đăng nhập



Quên mật khẩu Bạn chưa có tài khoản? >> Đăng ký ngay
Share
Tùy chọn
Xem bài viết cuối Go to first unread
Offline thaithiman  
#1 Đã gửi : 10/05/2019 lúc 04:55:28(UTC)
thaithiman

Danh hiệu: Gạo cội

Nhóm: Registered
Gia nhập: 10-03-2018(UTC)
Bài viết: 829
Woman
Đến từ: TP. Hồ Chí Minh

Thanks: 53 times
Được cảm ơn: 127 lần trong 97 bài viết


Trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự về đòi di sản thừa kế, đòi nhà cho ở nhờ, đòi đất… hầu hết đều nảy sinh vấn đề phải xem xét và tính công sức bảo quản, giữ gìn cho đương sự.


Tuy nhiên, trường hợp nào được hoặc không tính công sức của người có công bảo quản giữ gìn,...


 Có thể thấy, công sức bao gồm nhiều loại như:


1) Công sức tạo lập tài sản, phát triển tài sản;


2) Công sức giữ gìn tài sản;


3) Công sức bảo quản tài sản;


4) Công sức tôn tạo tài sản;


5) Công sức làm tăng giá trị của tài sản;


6) Công sức chăm sóc, nuôi dưỡng người để lại di sản…


Điều kiện để xem xét tính hay không tính công sức bảo quản, giữ gìn,...


- Trước hết phải xem xét có công sức hay không.


- Đặc biệt cần phải phân biệt giữa công sức và các chi phí.


+ Chi phí là khoản tiền đã bỏ ra (để nuôi dưỡng người để lại di sản như: Tiền thức ăn, tiền thuốc uống, tiền thuê người giúp việc…; để sửa lại nhà như: Trát lại tường, lăn lại sơn, lát sân nhà…). Các khoản tiền đã chi phí đều tính được và ai có yêu cầu thì phải có nghĩa vụ chứng minh (có thể bằng hóa đơn mua hàng, xác nhận của người bán hàng, người vận chuyển, người làm công…).


+ Còn công sức là sức lực, là thời gian… mà con người bỏ ra để ra nuôi dưỡng người để lại di sản, để giữ gìn, bảo quản, duy trì tài sản nên tài sản không bị hư hỏng, mất mát hoặc để làm tăng giá trị tài sản bằng việc tôn tạo, tu bổ tài sản. Công sức không thể xác định được thông qua các hóa đơn…


Có thể phân loại thành: Công sức trong các vụ án hôn nhân và gia đình; Công sức trong các vụ án thừa kế; Công sức trong các vụ án khác (đòi tài sản, đòi nhà đất cho thuê, đòi lại nhà đất cho ở nhờ,...) 


Với trường hợp vụ án dân sự có yêu cầu đòi nhà cho ở nhờ, đòi nhà đất cho thuê, đòi tài sản… vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về việc Tòa án có bắt buộc phải tính công sức trong mọi trường hợp hay không? Nếu có thì trong mọi trường hợp Tòa án đều phải tính công sức trong các vụ án này hay chỉ tính khi đương sự có yêu cầu?


Quan điểm 1: 


Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự ( BLTTDS 2015) thì: 


“1. Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.” 


Như vậy, Tòa án chỉ giải quyết những vấn đề được nêu trong đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, tức là nội dung nào không được nêu, không được thể hiện trong đơn yêu cầu, đơn khởi kiện của đương sự thì Tòa án sẽ không xem xét giải quyết. Do đó, đối với vụ án dân sự mà đương sự khởi kiện yêu cầu trả nhà, đòi đất cho ở nhờ,… nếu trong đơn khởi kiện đương sự không nêu yêu cầu đòi tính công sức thì Tòa án không phải xem xét, giải quyết đối với yêu cầu này khi yêu cầu chính là yêu cầu đòi nhà, đất… không được chấp nhận. 


Nếu sau này đương sự có yêu cầu thì Tòa án hướng dẫn đương sự khởi kiện bằng một vụ án khác đối với yêu cầu đòi công sức.


 Quan điểm 2


  Ngày 06/4 /2016, Chánh án TANDTC ban hành Quyết định số 220/QĐ-CA về việc công bố án lệ, trong đó có Án lệ số 02/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán TANDTC thông qua ngày 06/4/2016. 


Trong phần nội dung án lệ có nhận định: “Tuy bà Thảnh là người bỏ 21,99 chỉ vàng để chuyển nhượng đất (tương đương khoảng 27.047.700 đồng). Nhưng giấy tờ chuyển nhượng đứng tên ông Tám và sau khi nhận chuyển nhượng ông Tám quản lý đất, sau đó chuyển nhượng cho người khác. Như vậy, lẽ ra phải xác định ông Tám có công sức trong việc bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị đất nên phải xác định số tiền trên (sau khi trừ tiền gốc tương đương 21,99 chỉ vàng của bà Thảnh) là lợi nhuận chung của bà Thảnh và ông Tám. Đồng thời xác định công sức của ông Tám để chia cho ông Tám một phần tương ứng với công sức của ông mới đúng và đảm bảo quyền lợi của các đương sự (Trường hợp không xác định được chính xác công sức của ông Tám thì phải xác định bà Thảnh, ông Tám có công sức ngang nhau để chia).”


Như vậy, với nội dung của Án lệ số 02/2016/AL thì phải hiểu rằng, trong các vụ án về đòi nhà cho ở nhờ, đòi đất… khi đương sự có yêu cầu đòi nhà, đất… thì phải xác định đây là yêu cầu lớn hơn, là yêu cầu bao trùm lên yêu cầu đòi tính công sức. Do đó, khi giải quyết vụ án dân sự đòi nhà cho ở nhờ, đòi đất…, mà yêu cầu chính là yêu cầu đòi nhà, đòi đất… đó không được chấp nhận thì dù đương sự không yêu cầu đòi tính công sức trong đơn khởi kiện thì Tòa án vẫn phải giải quyết cả việc tính công sức một cách hợp lý cho người có công trong việc bảo quản, giữ gìn, tôn tạo, làm tăng giá trị tài sản… Có như vậy mới đảm bảo việc giải quyết vụ án một cách toàn diện, đầy đủ, tránh việc lại phải giải quyết bằng một vụ án khác làm mất thời gian, công sức, tiền của của các bên cũng như của cơ quan tiến hành tố tụng.


Việc ra đời của Án lệ số 02/2016/AL là vô cùng cần thiết, đáp ứng được nhu cầu thực tế khi giải quyết các vụ án dân sự,


Do vậy, khi giải quyết các vụ án dân sự về đòi di sản thừa kế, đòi nhà cho ở nhờ, đòi đất… thì các Tòa án phải xác định yêu cầu đòi nhà, đất, di sản thừa kế… là yêu cầu bao trùm, yêu cầu lớn nếu yêu cầu này không được chấp nhận thì Tòa án phải xem xét và tính công sức bảo quản, giữ gìn… cho đương sự theo tinh thần Án lệ số 02/2016/AL thì mới giải quyết triệt để nội dung vụ án, tránh kéo dài bằng việc giải quyết bằng 1 vụ án khác.


Tuy nhiên, không phải bất cứ trường hợp nào khi đương sự có yêu cầu khởi kiện đòi nhà, đất… thì Tòa án đương nhiên phải tính công sức nếu yêu cầu chính đó không được chấp nhận. Tác giả cho rằng, trong các vụ án này, trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, Tòa án phải hỏi đương sự nếu trong trường hợp yêu cầu đòi nhà, đất của họ không được chấp nhận thì họ có yêu cầu được nhận phần công sức hợp lý thực tế đã bỏ ra không? Nếu họ có yêu cầu thì Tòa án phải giải quyết yêu cầu này của họ, còn nếu họ không yêu cầu thì Tòa án không phải giải quyết. 


Nguồn tham khảo: tapchitoaan.vn


649
Ai đang xem chủ đề này?
Di chuyển  
Bạn không thể tạo chủ đề mới trong diễn đàn này.
Bạn không thể trả lời chủ đề trong diễn đàn này.
Bạn không thể xóa bài của bạn trong diễn đàn này.
Bạn không thể sửa bài của bạn trong diễn đàn này.
Bạn không thể tạo bình chọn trong diễn đàn này.
Bạn không thể bỏ phiếu bình chọn trong diễn đàn này.